Results 1 to 6 of 6

Thread: Vài nhận xét về cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng

  1. #1

    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    218
    Thanks Thanks Given 
    0
    Thanks Thanks Received 
    9
    Thanked in
    9 Posts

    Vài nhận xét về cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng




    Vài nhận xét về cuốn
    "Tổ Quốc Ăn Năn"
    của Nguyễn Gia Kiểng
    Nhật Tiến



    Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương


    Nguyễn Gia Kiểng là một nhân vật rất được biết đến trong cộng đồng VN hải ngoại từ gần ba thập niên trước, thông qua Nhóm Thông Luận rồi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tôi cũng biết ông, đă từng gặp ông, nhưng không thể gọi là quen ông. Bởi v́ chưa một lần nào tôi có dịp được ngồi bên ông để trao đổi những suy tư về một số vấn đề. Tuy nhiên tôi thấy giữa ông và tôi có một điểm khác biệt rơ rệt. Trong khi tôi chỉ là một người viết, đôi khi cầm bút bầy tỏ công khai trên mặt báo về lập trường, quan điểm của tôi đối với một số vấn đề liên quan đến t́nh h́nh đất nước th́ ông Nguyễn Gia Kiểng lại là một nhà hoạt động chính trị . Ṛng ră bền bỉ từ nhiều thập niên, những hoạt động của ông cho tới bây giờ vẫn không ngưng nghỉ. Điều đó chứng tỏ ông muốn làm được một điều ǵ cho đất nước, trong đó có chủ trương ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, một điều mà tôi hoàn toàn tán đồng . Trong quá tŕnh hoạt động, ông cũng đă chịu nhiều hệ lụy, như đă thổ lộ trong tác phẩm :

    " Xét cho cùng không phải người ta phản đối những điều tôi viết ra, bởi v́ họ bịa đặt ra những điều tôi không hề viết hay nói, cắt xén những câu viết hay câu nói làm thay đổi hẳn ư nghĩa rồi dựa vào đó mà lên án. Lư do thực sự là họ có nhu cầu cần phải thóa mạ và đả phá một ai đó "
    (Tổ Quốc Ăn Năn , trang 74).

    Tôi cho rằng chính những sự bức xúc này đă góp một phần quan trọng để khiến ông ngồi viết nên tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn khá đồ sộ này, và Nguyễn Xuân Nghĩa mới đây trong một bài điểm về cuốn này cũng có nhận xét tương tự :

    " Tôi nghĩ tới h́nh ảnh Nguyễn Gia Kiểng ngồi chẻ tượng thành củi dóm bếp và h́nh dung ra không phải cái cười hồn nhiên nhuốm vẻ tự đắc của anh , mà tới giọt nước mắt của người đă trăn trở từ lâu trong nỗi bất lực."
    (Tạp chí thế Kỷ 21, số 143, tháng 3 -2001 ) .

    Thú thật, khi thoạt nghe tựa đề của cuốn sách, tôi hơi ngạc nhiên. Tổ Quốc Ăn Năn !! Tại sao Tổ quốc lại ăn năn ? Tổ quốc là một biểu tượng cao quí, ngay cả khi có nơi sử dụng bốn chữ " Tổ quốc ghi ơn" thay v́ phải là " Tổ quốc ghi công " đă khiến cho nhiều người thấy khó chịu, huống hồ lại bắt Tổ Quốc phải ăn năn. Nếu quả thật có sự sai lầm ghê gớm nào đó th́ dân tộc của cái tổ quốc đó phải ăn năn mới gọi là chỉnh chứ, c̣n làm sao mà tổ quốc lại có thể và lại phải ăn năn được.

    Dĩ nhiên là ở đây, tác giả muốn xài một nghĩa bóng, muốn tạo một tác dụng cảm tính sâu xa trong tâm trí người đọc, và muốn kêu lên một cách thảm thiết rằng cả nước Việt Nam đă từng lầm lạc, không phải chỉ trong nhất thời mà ngay trong cả quá khứ xa xôi của lịch sử, để cho đến nay mọi con người Việt Nam phải biết ăn năn, phải biết xóa bỏ mọi tàn tích cũ để t́m ra sinh lộ cho chính ḿnh.

    Tôi sẽ chẳng nêu lên nhận xét về cung cách sử dụng từ ngữ tối nghĩa và không chỉnh này nếu tác giả không viết chương "Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi" trong đó có câu" "Phải nh́n nhận một sự thực đau ḷng: Chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết và không biết nói ."
    (Tổ Quốc Ăn Năn , trang 107).

    Để minh chứng cho kết luận chắc nịch này, tác giả đă đưa ra nhiều chứng cớ, như Cựu Tổng Thống Thiệu khi viết bản cương lĩnh cho "Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Dân Chủ và Tái Thiết Việt Nam " đă để lại gần 100 lỗi chính tả và văn phạm, như các sinh viên của tác giả, khoa kinh tế, thuộc một trường đại học ở Sài G̣n năm 1974 , đă khiến tác giả phải nêu nhận xét :

    "Các sinh viên ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp, hoàn toàn không biết viết tiếng Việt. Họ viết những câu rất dài, và luộm thuộm, sai văn phạm, sai chính tả, sai cả nghĩa của từ ngữ", hay như " Một biểu ngữ lớn trong cuộc mít tinh lớn : Cương quyết xiết chặc hàng ngũ...".... vân.. vân....

    Tất cả những bằng cớ nêu ra của tác giả đều đúng cả, ông không nói quá, ta có thể t́m thấy những sơ sót như thế đầy dẫy trên báo chí Việt ngữ ở đây, chẳng cứ trong cả một bài viết dài mà, khi ngay cả trong những tít lớn chạy ngang cột báo, hoặc cụ thể hơn, ngay trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn này tôi cũng có thể t́m thấy vô số những chỗ văn không chỉnh, nhiều điệp ngữ, thậm chí có lắm câu tối nghĩa !

    Nhưng nếu chỉ có thế mà ông khẳng định : "Chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết và không biết nói ." th́ tôi e rằng ông Nguyễn Gia Kiểng đă chỉ nh́n thấy vài mụn ghẻ trên làn da mà đă la lên là có bệnh hủi và tôi cũng rất lấy làm tiếc rằng ông đă phủi đi biết bao nhiều công tŕnh văn hóa tráng lệ của tiền nhân đă để lại cho con cháu.

    Khỏi cần nhắc lại những áng văn thơ của Nguyễn Trăi, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn thị Điểm hay cả một gia tài ca dao phong phú, chỉ xin vắn tắt : "Nếu không biết đọc th́ chúng ta đă không thể nhận biết được thiên tài Nguyễn Du qua truyện Kiều, không biết viết th́ xin hỏi cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, tác giả đă đựng cái ǵ trong đó ? Và không biết nói th́ làm sao giải thích được sự giầu có, phong phú và tinh vi của ngôn ngữ Việt có thể t́m thấy đầy dẫy trong các câu ca dao, một h́nh thức văn chương truyền khẩu qua bao nhiêu thế hệ ?

    Nhiều lănh vực được đề cập đến trong tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đều đă bị Nguyễn Gia Kiểng dẫn đến cùng chung một số phận, mà ông Nguyễn Xuân Nghĩa ( trong bài báo đă dẫn ở trên) đă tóm tắt bằng những h́nh tượng ngắn gọn : chẻ tượng thành củi dóm bếp, đem những h́nh tượng đẹp nhất của ta vứt xuống đất.''

    Công bằng mà nói, có thể khi làm những công việc này, ông thực ḷng mong muốn đất nước, con người, tổ quốc Việt Nam phải được tốt đẹp hơn sau biết bao nhiêu là đổ vỡ, nhiễu nhương, nhưng đáng tiếc là ông đă thể hiện ḷng mong muốn này bằng giải pháp xóa đi tất cả những truyền thống cũ để toan tính làm lại từ đầu.

    Đành rằng dân tộc VN phải tỉnh thức và soi rọi lại ḿnh trước khi bước vào một vận hội phục hưng , nhưng sự thức tỉnh nếu có, th́ có sẽ khởi đi từ những ư tưởng mà ông đă nêu ra trong cuốn sách này không? Hay sự đạp đổ mọi truyền thống như ông mong mỏi sẽ chỉ làm cho khuôn mặt tổ quốc trở thành thảm hại hơn?

    Đọc tác phẩm này của ông , tôi không khỏi không nghĩ đến cuộc Cách Mạng Văn Hóa Đỏ ở Trung Quốc trước đây , tuy nhiên tôi không dám có ư nghĩ rằng ông đă coi Giang Thanh như là một thần tượng.

    - Về mặt Lịch Sử : ông cho rằng "Muốn có ích, nghĩa là muốn làm một nguồn kinh nghiệm cho phép rút ra những bài học chung cho dân tộc, lịch sử phải chính xác và đầy đủ ", nhưng theo ông th́ " Lịch sử , kể cả lịch sử cận đại của ta không những thiếu xót mà c̣n bị xuyên tạc. Đă thế , vô số lư luận hồ đồ lại c̣n được lại c̣n được tung ra với mục đích giải thích lịch sử theo chiều hướng có lợi cho một phe phái. Người Việt Nam , kể cả trí thức , vốn đă thiếu óc phê b́nh, lại c̣n bị khủng bố bởi cả một phong trào khai thác lịch sử.
    (Tổ Quốc Ăn Năn trang 118) .

    - Về mặt Văn Hóa : Ông cho rằng văn hóa truyền thống của ta là văn hóa Nho Giáo, theo thói quen thường gọi là Khổng Giáo. Khổng Giáo đă tạo ra nếp sống trong nhân gian. Ông liệt kê và dẫn giải, tôi chỉ xin tóm tắt : đó là "óc thủ cựu, óc bất dung, độc quyền lẽ phải , sự sùng bái người xưa một cách bệnh hoạn, và logic bạo lực" bởi v́ "nền tảng của xă hội Khổng Giáo là bạo lực."
    (trang 301, sđd)

    Sản phẩm của xă hội Khổng Giáo là kẻ sĩ . Và kẻ sĩ Việt Nam dưới cái nh́n của Nguyễn Gia Kiểng th́ như sau :

    "Mối liên hệ vua tôi, cốt cán của tư tưởng chính trị Khổng Giáo đưa tới hai hậu quả. Một là, kẻ sĩ, tinh hoa của xă hội, mất hết nhân cách, xă hội v́ thế lẫn quẩn trong sự thui chột và hèn kém. Hai là, các cuộc khủng hoảng xă hội rất khó có lối thoát. Kẻ sĩ chân chính không phải là người khởi nghiệp. Triết lư của họ là lúc khó khăn th́ lánh mặt.
    (trang 321, sđd).

    Đấy là chuyện quá khứ, nhưng ngay cả bây giờ, Nguyễn Gia Kiểng cũng vẫn nh́n trí thức Việt Nam là hậu thân của kẻ sĩ ngày xưa .

    " Trí thức Việt Nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ phụ-tử vẫn c̣n rất thắm thiết. Kẻ sĩ vẫn c̣n là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt Nam. Ngày nay người ta vẫn c̣n tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta vẫn c̣n khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ. Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân? Chúng ta vẫn c̣n là kẻ sĩ, và v́ thế vẫn c̣n mang cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn đề là như thế. Người ta có thể hấp thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và một tâm tính đă được nhào nặn qua nhiều thế hệ, đă ăn rễ vào con người và đă biến thành một bản năng, là một điều khó gấp nhiều lần.
    (trang 313, sđd).

    Trong cả hai lănh vực Lịch sử và Văn hóa kể trên , v́ lư do giới hạn của bài viết và v́ có những vấn đề quá rộng lớn đă được đề cập đến trong tác phẩm, nên tôi chỉ xin nêu lên một đôi điều nhận xét:

    Về Lịch sử : Tôi hoàn toàn không chia xẻ chủ trương xé nát những thần tượng, không của riêng tôi mà của tất cả những ai c̣n tự coi ḿnh là người Việt Nam. Xin chỉ lấy một Quang Trung Nguyễn Huệ làm cơ sở bàn luận. Chẳng hạn ông viết:

    "Nguyễn Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người, đó là một sự thực. Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng cướp Tập Đ́nh và Lư Tài đánh chúa Nguyễn rồi lại đánh Tập Đ́nh và Lư Tài.; liên kết với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân Bắc Hà giết. Nguyễn Hữu Chỉnh không chết mà lại phát lên được th́ sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu Chỉnh, tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi lại giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả Nguyễn Nhạc đối với Huệ vừa có nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng đánh."
    (trang 161, sđd) .

    Chẳng hạn ông viết :

    "Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh , không có trong một sử liệu nào, đề thổi phồng tầm vóc của trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ "đại phá quân Thanh". (Trong hịch của Tôn Sĩ Nghị có nói tới năm chục vạn, nhưng đó, theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí, chỉ là tờ truyền đơn mà mục đích là hù dọa làm mất tinh thần quân Tây Sơn . Chính Nguyễn Huệ cũng biết đây chỉ là chuyện hù dọa. Ở một điểm Trần Trọng Kim giấu cả sự kiện. Toàn bộ việc thuật lại trận Đống Đa của ông dựa theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhưng trong khi HoàngLêNhất Thống Chí chép rằng quân Nguyễn Huệ đi sau các bức mộc bia, cứ ba mươi người đàng sau một bức , tất cả là hai mươi bức, th́ Trần Trọng Kim bỏ đi câu "tất cả 1à hai mươi bức" , v́ như thế chứng tỏ quân Tây Sơn chỉ có sáu trăm người, mâu thuẫn với tầm vóc "hai chục vạn quân Thanh'' mà ông gán cho trận Đống Đa"
    (trang 168, sđd)

    Bới ra những chi tiết ở trên, tác giả Nguyễn Gia Kiểng hẳn muốn trả lại lịch sử những chi tiết trung thực của nó. Nhưng xin hỏi có sự thực nào trong sách vở được coi là tuyệt đối ?

    Những lời đồn đại hoặc ngay cả những tài liệu được viết trên giấy trắng mực đen về vua Quang Trung sau khi nhà Nguyễn đă lên ngôi, dễ ǵ c̣n giữ được tính trung thực trong bầu không khí khét lẹt về những hành động khủng bố, trả thù của Gia Long (như đào mả Quang Trung, lấy xương đầu làm bô đựng nước tiểu ..v.v.).

    Ông Nguyễn Gia Kiểng đă nh́n thấy trí thức Việt Nam đă từng bị khủng bố bởi cả một phong trào khai thác lịch sử như đă trích dẫn ở trên, vậy mà ông vẫn dùng chỉ một vài chi tiết sử liệu để làm hoen ố cả một sự nghiệp của một anh hùng dân tộc, một việc như thế có gọi là chính đáng không và sẽ có ích lợi ǵ ?

    Dân tộc nào cũng đều đă có những trang sử oai hùng để tạo dựng niềm tin và để cho các thế hệ nối tiếp noi theo. Vận nước có lúc thăng lúc trầm, nhưng có một dân tộc nào đă dại dột đem danh nhân lịch sử của ḿnh ra lật nhào chỉ v́ nhu cầu phát triển? Trải qua bao thế hệ, người Việt Nam đă nh́n Quang Trung Nguyễn Huệ như một biểu tượng của tinh thần bất khuất của dân tộc với chiến công lừng lẫy đại phá quân xâm lược đến từ phương Bắc. Đấy là một sự thực hiển nhiên, rốt ráo, bất khả phản hồi. Là lớp hậu sinh, không ai được quyền đem những mũi dao tiểu tiết của đời thường ra rạch ṛi để làm hoen ố tổng thể của cả một bức tranh hùng tráng vốn đă được cả nước tôn sùng qua bao thế hệ.

    Về Văn Hóa: Tôi cũng hoàn toàn không đồng ư với những nhận định của tác giả xoay quanh đề tài kẻ sĩ. Tôi cho rằng Nguyễn Gia Kiểng đă đánh lộn ṣng giữa nhà nho chân chính với lũ hủ nho, và có sự sai lầm về từ ngữ giữa sĩ phu với kẻ sĩ.

    Trải cả ngàn năm lịch sử, chính nho phong đă là nguyên nhân ǵn giữ giềng mối gia đ́nh và xă hội, đă khiến cho dân tộc Việt Nam trường tồn không bị Trung Quốc đồng hóa và đă tạo nên biết bao nhiêu nhân vật lẫy lừng cả về mặt lịch sử cũng như văn hóa. Mặt khác, sĩ phu là toàn thể những con người được đào luyện trong môi trường giáo dục của Khổng giáo. Họ là những kẻ đă từng tham gia guồng máy nhà nước. Có người giữ được tiết tháo, nhưng cũng có lắm kẻ vong thân. Một ông quan thanh liêm, nhiều khi do hoàn cảnh nhiễu nhương đă rũ áo từ quan về qui ẩn, đó là một sĩ phu giữ được tiết tháo. Một kẻ bán nước cầu vinh như Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu là điển h́nh cho một thứ sĩ phu đă bị vong thân. Không bao giờ người ta coi Hoàng Trọng Phu là một kẻ sĩ.

    Kẻ sĩ là từ ngữ chỉ dành cho những trí thức chân chính của mọi thời đại, họ là "khuôn mẫu" " của những trí thức ưu thời mẫn thế,có ḷng với đất nước.

    Trong thời phong kiến, kẻ sĩ có thể ở ẩn, có thể tham chính, có thể lui, có thể tới; tùy thời thế, nhưng lúc nào cái tâm của họ cũng vằng vặc sáng như Sao Khuê. Đừng nh́n vào cái đám tự nhận ḿnh là trí thức nhưng thực chất chỉ là những thứ tiểu nhân a dua mà thời nào cũng có để kết án "kẻ sĩ".

    Ngoài ra , kẻ sĩ c̣n có phẩm chất của một con người biết dơng dạc nói lên nguyện vọng chân chính của đa số quần chúng:

    - Tiếng nói của Chu văn An trong vụ dâng thất trảm sớ là tiếng nói của kẻ sĩ.

    - Trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc (1956), tiếng nói bất khuất của nhà văn Phan Khôi cũng là tiếng nói của kẻ sĩ.

    - Và gần đây nhất, những nhân vật hiện c̣n sinh sống ở trong nước mà vẫn dám nói lên tiếng nói khát vọng tự do dân chủ của ḿnh như Hà Sĩ Phu, như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc , Tiêu Dao Bảo Cự .v.v cũng đều là tiếng nói của những kẻ sĩ thời đại.

    Tôi không hề nh́n thấy ở họ đâu là tính chất của những kẻ tôi tớ, tồi hèn, vắng mặt trong xă hội vốn là những điều mà tác giả đă lên án, mặc dù ở thời nào mà chẳng có kẻ mang đầy đủ những tính chất đó v́ chỉ biết cam tâm qú gối , cong lưng trước quyền lực để cầu an, cầu danh hay cầu lợi.

    Về mặt nhân văn, tác giả lên án kịch liệt những giá trị khuôn mẫu của con người trong Khổng Giáo. Ông cho rằng :

    "Hệ thống giá trị áp đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo. Nó hạ giá người phụ nữ xuống hàng một nô lệ và một vật dụng. Trí tuệ và nhân cách của người đàn bà không được kể đến"
    (trang 295, sđd).

    Tôi không phủ nhận tính cách thua thiệt , thậm chí nhiều khi c̣n là sự bị bóc lột đến tận xương tủy của người phụ nữ trong xă hội ngày xưa. Nhưng đó không phải chủ trương của Khổng giáo. Không phải v́ một sự t́nh cờ mà người vợ trong gia đ́nh được xưng danh là Nội Tướng. Đó là một sự phân công xă hội căn cứ vào thể chất và tâm lư của phái tính. Vợ lo việc nhà, chồng lo việc nước, mà cũng có khi "giặc đến nhà , đàn bà phải đánh", nếu không, ta đă chẳng có những trang sử oai hùng của Bà Trưng, Bà Triệu.

    Từ ngày có hoàn cảnh được sinh sống ở nước ngoài, khi quan sát sinh hoạt của xă hội Âu Mỹ, tôi lại càng nh́n thấy cái giá trị tuyệt vời của người phụ nữ Á Đông hay gần gũi hơn, của người phụ nữ Việt Nam vốn đă được định h́nh trong khuôn khổ của Khổng Giáo. Công, Dung, Ngôn, Hạnh chỉ là những tiêu chuẩn xă hội để người phụ nữ noi theo chứ không phải là những luật lệ ép buộc. Có đầy đủ th́ càng quư, thiếu sót một hai điều, không v́ thế mà bị bắt tội. Cái khiếm khuyết to lớn nhất của Khổng Giáo đối với người phụ nữ là chủ trương trọng Nam, khinh Nữ nhưng điều này đă thuộc về quá khứ.

    Cùng với đà tiến hóa của nhân lọai, sự cách biệt nam nữ trong xă hội Việt Nam đă dần dần biến mất. Một số những luật lệ g̣ bó theo truyền thống cổ truyền đă bị xóa bỏ, thí dụ như trong hôn nhân, không c̣n cảnh "Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy". Qui luật Tam Ṭng (tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử) cũng đă được diễn dịch một cách khoáng đạt hơn. Chủ yếu là dựa trên ḷng hy sinh và cơ sở tự nguyện. Cha ḿnh, chồng ḿnh, con cái của ḿnh, toàn là những người thân yêu ruột thịt, nếu có phải hy sinh để mà ṭng th́ cũng có ǵ là sai trái, là trở thành ngục tù hay nô lệ?

    Người phụ nữ nào ngày nay, nếu có thiếu sót trong những bổn phận đó th́ cũng không bị dư luận đàm tiếu nặng nề. Không ai có thể thấu hiểu hoàn cảnh riêng tư của mỗi người bằng chính người trong cuộc. Xă hội bây giờ đă biết cảm thông chứ không c̣n chỉ biết lên án. Người phụ nữ Việt Nam trên lư thuyết đă được giải phóng, tuy nhiên trong hàng ngàn hàng vạn trường hợp, họ đă hy sinh quyền lợi riêng tư để lựa chọn chỗ đứng về phía những người thân ruột thịt của ḿnh.

    Vào những năm cuối thập niên 70 hay suốt thập niên 80, đă có biết bao nhiêu phụ nữ chịu đựng gian nan, khổ ải để lặn lội vào tận rừng sâu, núi thẳm ḥng thăm nuôi bằng được chồng con đang bị tù đầy trong các trại cải tạo. Chắc là trong những năm gian khổ đó, tác giả cũng đă có nhiều người thân thăm viếng và hẳn ông cũng đă từng thấy ḷng rưng rưng, xúc động khi thấy những người phụ nữ thân yêu ruột thịt của ḿnh đă tới, đă hỏi han, đă an ủi, đă gom góp thuốc men, quà bánh, tất cả đă chứng tỏ họ không bao giờ bỏ quên chồng, con trong ṿng ngục tù đen tối. Chẳng ai bắt buộc họ làm, mà chỉ bởi họ là những phụ nữ Việt Nam vốn được nuôi dưỡng trong cái nôi truyền thống nho phong Việt Nam nên đă có đầy đủ đức hy sinh và ḷng tự nguyện.

    Như thế, người phụ nữ VN trong những năm trời đen tối ấy đă rơ ràng thể hiện câu tam ṭng trên một b́nh diện cực kỳ sáng chói. Và nếu cần phải xét lại cái quan niệm này để giải phóng phụ nữ một cách tích cực hơn th́ theo tôi nghĩ, chính các đối tượng Phụ, Phu, Tử mới là những thành phần cần phải soi gương lại chính ḿnh. Là Cha mà chỉ coi con cái như một lũ nằm trong quyền sinh sát của ḿnh, là Chồng mà chỉ coi vợ như một tên tôi tớ, hay là con mà chỉ khai thác sức lao động của mẹ để hưởng thụ cho riêng ḿnh th́ muôn đời phụ nữ vẫn bị giam hăm trong địa ngục, chẳng cứ là trong khuôn khổ tứ đức, tam ṭng như tác giả đă nêu ra.

    V́ khuôn khổ của bài viết có hạn, tôi không thể nêu ra được thêm nhiều ư kiến riêng tư hơn nữa. Nhưng nh́n chung, tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đă đưa ra nhiều cách nh́n táo bạo và đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ.

    Có những phát hiện của ông, có thể mang tác dụng uốn nắn được cách nh́n, cách suy nghĩ, cách hành xử của một số người.

    Nhưng cũng không thiếu những điều sẽ làm cho người đọc phẫn nộ. Bởi v́ ông đă đi quá đà khi đưa ra nhiều kết luận liều lĩnh dựa trên những tiền đề chưa đủ tầm vóc để có sự thuyết phục. Phải chi ông tự chế được nhiều hơn th́ tiếng nói của ông sẽ được nhiều người lắng nghe hơn, và theo tôi hiểu, chính ông cũng rất mong mỏi được như thế, hơn là chỉ biết nói lên bất cứ cái ǵ để giải tỏa những nỗi bất lực chất chứa trong con người của ḿnh.

    Trừ phi ông c̣n có dụng ư khác !

    Nhật Tiến
    California ngày 8-3-2001

  2. The Following User Says Thank You to khieman For This Useful Post:

    NamBinh (10-01-2017)

  3. #2
    Administrator
    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    2,770
    Thanks Thanks Given 
    71
    Thanks Thanks Received 
    520
    Thanked in
    490 Posts



    Đọc sách Tổ Quốc Ăn Năn
    của Nguyễn Gia Kiểng

    Trần Xuân Ninh

    Khi tới nhà một người bạn trong một chuyến đi dài, tôi thấy quyển Tổ Quốc Ăn Năn trong đống báo chí và sách vở bừa bộn trên bàn làm việc. Chỉ quyển sách, tôi hỏi:

    "Mới mua hả? Đọc thấy sao?".

    Người bạn trả lời:

    "Mua đâu. Có người gửi cho th́ để đó. Nhưng mới lướt qua vài chương th́ ngưng".

    Quyển sách c̣n mới, nhiều trang c̣n dính nhau. Trang đầu có ḍng chữ đề tặng:

    "Đọc cho biết. Có những điều không thấy trong những sách khác".

    Người bạn tôi nói:

    "Nếu không có ǵ khác để giết th́ giờ trong những thời gian di chuyển, và nếu không dị ứng với cái tên Nguyễn gia Kiểng, th́ cầm lấy mà đọc".

    Lời đầu, ông Nguyễn Gia Kiểng đă viết về "lư do ra đời của cuốn sách khiêm nhường này".

    Ở trang 326 tác giả cho biết rằng "tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu gộp chung lại và in thành một cuốn sách th́ cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang cầm trong tay thôi".

    Người đọc nhờ thế biết được rằng Khổng Tử thuyết giảng cả đời gom góp lại không nhiều bằng lời ông Nguyễn Gia Kiểng từ khi nhảy vào làm chính trị. Cuối trang III, Lời đầu, tác giả viết "Nhiều độc giả sẽ thấy nhiều điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó. Tôi cho rằng nói ra những điều ḿnh nghĩ là đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho là sai và đánh giá thấp ḿnh là một thái độ khiêm tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi."

    V́ sự khiêm tốn của tác giả, chấp nhận sự kiện "nhiều người cho rằng những điều ḿnh nói ra là sai", mà tôi viết bài nhận định này. Tuy nhiên, tôi sẽ không chú trọng nói về những điều sai đúng trong cuốn sách, v́ nếu thế th́ phải viết một hay hai cuốn sách cũng dầy như cuốn Tổ quốc ăn năn để dẫn chứng là sai hay đúng. Tôi chỉ nêu lên một số đặc điểm của cuốn sách và tác giả.

    A. Những đặc điểm của cuốn sách

    1/ Căn bản lư luận của tác giả đă chỉ dựa trên những trên những khẳng định tùy tiện hay trên những sự kiện có tính giai thoại. Những khẳng định tùy tiện có thể làm suôi tai một số người, nhưng không chính xác hay không có qiá trị ǵ đối với những người hiểu chuyện. Những sự kiện có tính giai thoại cũng vậy. Những kết luận rút ra từ những điều không có tính phổ quát này dĩ nhiên là không có bao nhiêu trọng lượng.

    1-1.Thí dụ về những khẳng định tùy tiện.

    +Tác giả viết "Tất cả các nhà bác học về nhân chủng, y khoa, tâm lư đều đă đồng ư với nhau về một kết luận: chỉ có một giống người trên thế giới này mà thôi và mọi dân tộc đều có những khả năng như nhau hay ít ra gần như nhaụ"

    Người có chút hiểu biết phải thấy rằng đây là một nhận định "phải đạo chính trị" (politically correct). Nhận định phải đạo chính trị này không phản ảnh thực tế khoa học. Thực vậy, chỉ cần nh́n ngay quanh ḿnh, ai cũng có thể thấy ngay rằng anh em cùng cha mẹ chưa chắc đă có những khả năng như nhau hay gần như nhau, chưa cần nói tới người ngoài và các dân tộc khác nhau. Lấy một nhận định "phải đạo chính trị", để khẳng định như ông Kiểng rằng "Chỉ có những phần tử cực đoan và kỳ thị, thường thường vô học, mới phủ nhận kết luận này" không thể có sức thuyết phục nào đối với người hiểu biết.

    +"Trong khi ở mọi nước phát triển môn địa lư được coi là tối quan trọng th́ tại Việt nam nó lại bị coi thường quá đáng"
    (trang 26)

    Không hiểu bên Tây là nơi tác giả học và sống ra sao, nhưng bên Mỹ là nước phát triển và giầu có nhất thế giới, điạ lư không được coi là tối quan trọng như tác giả nói. Ai biết học tŕnh tiểu và trung học, và nghe những chế giễu trên truyền thông về sự hiểu biết không nhiều lắm về địa lư và sử kư của các nhân vật lănh đạo quốc gia đều thấy như thế.

    Theo một thăm ḍ các học sinh từ 11 đến 18 tuổi được học lịch sử ít nhất cho tới năm 14 tuổi đăng trên báo Daily Telegraph ngày 18 tháng 1/2001, th́ đại chiến thế giới thứ nhất là một bí mật đối với 2/3 học sinh trung học Anh quốc. Một vài học sinh nghĩ Hitler là thủ tướng Anh trong thế giới đại chiến II. 1% nghĩ Oliver Cromwell dính líu vào trận đảo Falklands.

    Bằng chứng thêm là cục điều tra năm 1997 của National Public Radio (Mỹ) cho biết 15% người Mỹ không chỉ được nước Mỹ ở đâu trên bản đồ thế giới, 42% không chỉ được Nhật bản ở đâu. Điều tra của National Science Foundation năm 1995 cho biết 53% người Mỹ nói trái đất đi ṿng quanh mặt trời trong 1 ngày hay trong 1 tháng (nghiă là chỉ có 47% câu trả lời đúng là 1 năm; 21% cho rằng mặt trời đi ṿng quanh trái đất (National Illinois University).

    +"Kinh nghiệm của tôi tuy chẳng bao nhiêu những cũng đủ để khẳng định về môn kinh tế chính trị nó rất dễ. Một người b́nh thường với tŕnh độ tú tài, hay hơn một chút nữa càng hay, nếu tự tin và quyết tâm có thể nắm vững những kiến thức cơ bản của môn kinh tế chính trị trong ṿng một năm, dĩ nhiên với điều kiện có được sách tốt hoặc thầy tốt."
    (trang 462)

    +"Vai tṛ quản lư kinh tế của nhà nước thực ra không có ǵ phức tạp" (trang 468). Nếu thực sự như thế th́ nước nào kinh tế cũng đều phồn thịnh hết. Jeffrey Schwartz, kinh tế gia giám đốc Chương tŕnh phát triển quốc tế của Harvard, đă không thất bại trong vai tṛ cố vấn phát triển kinh tế cho Nga sô. Các định chế tài chánh thế giới như IMF, World Bank cũng đă không thất bại nâng cao kinh tế ở Phi châụ

    +"Kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân"
    (trang 312)

    +"Một dân tộc gồm toàn những người khôn là một dân tộc rất đần độn"
    (trang 354)

    +"Chữ hiếu của Khổng tử không những bệnh hoạn mà c̣n bất lương" (trang 296). Chữ nhân của Khổng Tử dứt khoát không phải là chữ nhân chúng ta thường hiểụ..

    +"Khổng Tử xứng đáng được tôn làm ông tổ của tị nạn kinh tế (trang 284). Cái triết lư ở ẩn, tránh khó khăn và gian nguy của ông về bản chất là một thái độ thấp hèn.... Nguyễn Khuyến đáng được coi là tiêu biểu cho cái đạo lư tồi tàn nàỵ

    +"Đó cũng là v́ chúng ta không biết đọc lịch sử"
    ( trang 191)

    +"Từ bao đời rồi lịch sử chỉ được coi là một diễn đàn để hạ nhục đối phương và tâng bốc ḿnh lên
    ( trang 183)

    vân vân...

    Những khẳng định kể trên có thể không sao giữa một nhóm quen thuộc đă nhận người phát biểu làm lư thuyết gia hay trong một cử toạ xă giao v́ lịch sự mà im lặng. Nhưng khi đọc thấy trong cuốn sách, tôi không khỏi nghĩ tới những khẳng định của cán bộ CS sau năm 1975. Tại trường y khoa đại học Sài g̣n, cán bộ tiếp thu nói với chúng tôi rằng trong mười năm nước ta sẽ tiến hơn Nhật Bản. Trong trại cải tạo, quản giáo khẳng định "thay trời làm mưa, biến sỏi đá thành cơm gạo", "xuất khẩu tre sang Liên sô để đổi lấy tên lửa, về cải tiến để đánh máy bay Mỹ".

    Báo Nhân dân tường thuật bác học Tôn Thất Tùng mổ gan, mổ tim trong mấy phút... Trong một số Văn nghệ quân đội năm 1976 (nhà xuất bản Xunhaxaba) tả người tiếp viên hàng không ưu việt của CHXHCNVN được dậy lấy bộ ngực che vết nứt của máy bay phản lực đang trên cao để tránh mất áp lực trong thân máy bay làm nguy hiểm cho hành khách. Người dân nghĩ ǵ về lối khẳng định này và về người nói, tôi thấy không cần ghi lại ở đâỵ

    1-2 Thí dụ về những sự kiện có tính giai thoại

    Tác giả đă

    +Lấy chuyện bà mẹ hai cán bộ VC về miền Nam sau 1975 biết chùi bu-gi máy đuôi tôm để khẳng định "sự khéo léo và nhanh trí của nông dân ở đây"

    +Lấy chuyện người bộ đội miền bắc giải ngũ, nhanh chóng sửa và làm máy tàu, lấy ṇng súng đại bác thay bạc sếch măng, để ca tụng: "Hơn tất cả mọi tài liệu sách báo, chính những tiếp xúc với thực tế, với những con người đă cho tôi nh́n thấy rơ sự sáng dạ và khả năng thích nghi nhanh chóng của người Việt."
    (trang 44)

    +Lấy một chi tiết về chương tŕnh huấn luyện quân sự học đường ở miền Nam năm 1956 để kết luận về người Việt "Thật là bắt chước một cách ngu ngốc."
    (trang 47)

    +Lấy một câu chuyện huấn luyện quân sự công tư chức sau tháng 3 năm 1975 để kết luận: "Có khi nước đến chân họ vẫn không biết cách thích ứng."

    +Lấy chuyện nuôi heo miền Bắc để nói: "Điều đó tố cáo sự thiếu óc sáng tạo và đổi mới của người Việt nam."
    (trang 46)

    +Lấy chuyện thân mẫu phát cháo thí năm 45 để kết luận "t́nh người và t́nh đồng bào".

    +Lấy chuyện bà Năm đảng viên CS nuôi đứa con gái người d́ của ông NGK bị tố khổ chết "để tự hào làm người Việt"
    (trang 112)

    +Lấy chuyện những bài báo của ḿnh bị phê b́nh nặng nề, để "kiểm chứng cái tính ghét nhau của người Việt".
    (trang74)

    +Lấy chuyện có người đồng ư với ḿnh mà không lên tiếng, để giải thích rằng "trong bản năng của họ, họ đều nghĩ rằng sự độc ác của người Việt trong cách đối xử với nhau là một chuyện thường"...

    +Kể chuyện hai người bạn công kích nhau kịch liệt, một người bênh một người chê tác giả NGK, để viết: "Người VN chúng ta trong tiềm thức không ưa nhau, chúng ta có sẵn một bản năng tiêu diệt lẫn nhau, chỉ đợi cơ hội là bùng phát."
    (trang 76)

    "Chỉ v́ một ư kiến không hợp ư ḿnh, người ta có thể công kích nhau một cách thậm tệ dữ dằn."
    (trang 133)

    vân vân...

    Trong khoảng vài chục trang, tác giả vừa khẳng định "sự sáng dạ và khả năng thích nghi nhanh chóng của người Việt", "sự khéo léo và nhanh chí của nông dân", vừa chê bai "sự thiếu óc sáng tạo và đổi mới của người Việt nam", "nước đến chân vẫn không biết cách thích ứng", "bắt chước một cách ngu ngốc".

    Từ một trường hợp cá nhân, ông Kiểng biến thành "chúng ta" rồi đi sang "cả nước", "cả dân tộc", tuỳ tiện theo cảm hứng. Cái lối xử dụng giai thoại để biện luận cho quan điểm này được thấy trong toàn bộ cuốn sách và đă dẫn đến những kết luận mâu thuẫn nhau.

    Đây là xảo thuật mà các ứng viên dân cử Hoa kỳ hay dùng. Họ lấy một trường hợp thương tâm hay một sự việc hư hỏng để quảng cáo cho lập trường của ḿnh hay để tấn công đối thủ và chính sách của đối thủ. Xảo thuật này có thể gây những phản ứng xúc động nhất thời cho một quần chúng không quan tâm theo rơi t́nh h́nh và không có thói quen suy nghĩ, khi ngồi trước truyền h́nh hay trong khung cảnh của một cuộc hội thảo nghe tác giả nói. Nhưng lối này không có tác dụng, nếu không nói là gây phản tác dụng, khi dùng trong một cuốn sách, mà người nào đă đọc thường là người ít nhiều hiểu chuyện và để tâm suy nghĩ.

    2/ Lư luận lệch lạc là kỹ thuật đă dùng trong cả cuốn sách. Nếu ông Nguyễn Gia Kiểng đă đưa ra rất nhiều những sự kiện sai, hay những giai thoại không có giá trị phổ quát (trên đă trích dẫn một số điển h́nh), th́ ông cũng có nêu ra một số sự kiện đúng (một số hiển nhiên hay kiểm chứng được là đúng hay đúng một phần, và mt số không kiểm chứng được nhưng có thể suy diễn là đúng từ thực tế kinh nghiệm sống). Nhưng, ông lại đă lư luận lệch lạc để phục vụ cho những định kiến của ḿnh.

    2-1.Khi biện giải cho sự cần thiết của dân chủ ông Nguyễn Gia Kiểng đă đưa ra trường hợp của một số nước Á châu để chứng minh. Nhưng những lư luận này dưạ trên những dữ kiện chỉ đúng biểu kiến, hay đúng một phần và không có tính thuyết phục chút nào đối với những người hiểu chuyện và làm cho vấn đề rối mù đối với những người không quen lư thuyết dông dài. Tôi không nêu ra ở đây v́ tốn giấy và làm mất th́ giờ người đọc. Nhưng cũng phải nói rằng sự rối mù này có thể làm cho một vài người đọc phục người viết cao thâm.

    2-2.Ông Nguyễn Gia Kiểng đề cao thương mại và ca tụng những đức tính chọn lọc của thương giới. Sự đề cao này có thể là nhằm đạp đổ quan niệm coi thường thương giới trong trật tự "sĩ nông công thương" và có lẽ cũng v́ ông cho rằng người VN hiện nay vẫn c̣n nghĩ thế. Tuy nhiên, nếu ông biết số học sinh trong nước nhào vào học các ngành thương mại và kinh tế như thế nào, và số người VN đổ sô vào buôn bán khắp ngóc ngách đường phố từ tỉnh đến quê trong nước ra sao th́ có lẽ ông sẽ không thấy cần đề cao thương mại như vậỵ

    "Thương mại đ̣i hỏi và làm phát triển nhiều đức tính tốt... Người làm thương mại sống bằng chữ tín nên phải thực thà, nếu không muốn bị tẩy chay và phá sản. Người làm thương mại cần khách hàng nên phải thực sự quí trọng người khác v́ không có sự giả dối nào có thể kéo dàị ... Chính v́ thương mại không phát triển mà con người trong các xă hội Khổng giáo thường rất thô lỗ...
    (trang 456)

    Trong những câu trên, tác giả đă dùng một nửa sự thực để dẫn tới những kết luận theo ư riêng. Thực thế, thương mại đă làm phát triển nhiều đức tính tốt mà cũng sinh nhiều tính xấu. Buôn bán cần tín nhiệm th́ có mà thực thà th́ chưa chắc; xă giao mềm mỏng th́ có mà thực sự quí trọng th́ chưa chắc...

    2-3.Ông Nguyễn Gia Kiểng đă tiếp nhận được một số quan niệm lư thuyết về quốc gia của Tây phương. Những quan niệm này có tính từ chương, xử dụng cho các trường học để hướng dẫn sinh viên nhận định. Nhưng cho rằng nhờ đó mà người Việt nam có ư thức quốc gia, có ḷng yêu nước th́ là một sai lầm lớn. Tuy người b́nh dân (chiếm tuyệt đại đa số dân tộc) không biết ǵ về những ư niệm lư thuyết này, nhưng đơn giản hiểu rằng "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" hay là "quốc gia hưng vong thất phu hữu trách" hay là như Trần B́nh Trọng "thà làm quỉ nước Nam c̣n hơn làm vương đất Bắc". Trong khi ông Kiểng với mớ lư thuyết sách vở đó, và với sự choáng ngộp v́ đời sống ở Pháp đă lâm vào t́nh trạng: "niềm tự hào dân tộc giảm đi, nhường chỗ cho một sự hoang mang và sau cùng là một sự chua xót và thẹn thùng về sự thua kém của đất nước Việt nam và con người Việt nam".

    3/ Về mặt h́nh thức, ông Nguyễn Gia Kiểng đă dùng rất nhiều lối văn khoa trương hoa mỹ (rhétorique, rhetoric). Nhưng đă không giấu được hay làm cho dễ nghe hơn những nội dung mâu thuẫn, sai lầm hoặc chỉ phản ảnh một phần sự thực. Cũng không thể tăng thêm tính thuyết phục của các lư luận lệch lạc ông dùng. Mời quí vị duyệt những gịng khoa trương hoa mỹ điển h́nh dưới đây, luận về tổ quốc.

    Đầu tiên là những khái niệm căn bản của ông Kiểng về tổ quốc, quốc gia, không có ǵ đáng bàn:

    "Quốc gia trước hết là một khái niệm tinh thần và t́nh cảm, trong đó nguyện ước chia xẻ một tương lai chung có tầm quan trọng quyết định. Đồng nghĩa với quốc gia là nước, là đất nước, non sông hay tổ quốc, được dùng tùy trường hợp".
    (trang 477)

    "Tổ quốc cũng t́nh cảm như đất nước, non sông, nhưng nhấn mạnh hơn về lịch sử và di sản văn hoá".

    Ông Kiểng biết rằng "Tổ quốc, quốc gia trước hết là một khái niệm tinh thần và t́nh cảm". Nhưng trong cơn say khoa đại, ông đă biến tổ quốc thành một nhân vật, phải thế này phải thế nọ. Trong cơn say này, ông đồng hoá (hay lẫn lộn) chế độ (quốc gia hay cộng sản), chính sách, người cầm quyền... với tổ quốc. Dường như ông có nhận ra điều này, và có biện giải một cách yếu ớt (trang 573), để giữ nguyên những khoa đại mà có lẽ ông rất lấy làm đắc ư.

    Và rất có thể từ đó lấy cái tên nổ cho cuốn sách là "Tổ quốc ăn năn". Người đọc có thể hiểu được cái tâm trạng "văn ḿnh" (tức là tự mê) này của người viết. Nhưng ấn tượng gây nên nơi người đọc nhiều lắm th́ cũng tương tự như khi đọc loại văn chương cà-phê-thuốc-lá-ghế-đá-công-viên. Bởi không phải v́ ḿnh tự mê mà người khác cũng mê ḿnh. Xin quí vị đọc mấy ḍng trích dẫn dưới đây để thấy sự lẫn lộn đă nói:

    Người cộng sản VN "nhân danh tổ quốc để tàn sát lẫn những người không chấp nhận chủ nghiă của họ" . "Tổ quốc trở thành đao phủ"
    (trang 570)

    "Toàn thắng rồi, tổ quốc xă hội chủ nghiă quên phắt cam kết thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ thù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái "nguỵ quân nguỵ quyền" ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm doạ bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường...."
    (trang 571)

    "Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió là hải tặc là cái chết trong bụng cá..." "Đối với những người ở lại tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong..."

    "Tổ quốc của phe "quốc gia" chắc chắn không kém phần hiểm độc bằng tổ quốc xă hội chủ nghiă, nhưng cũng không kém phần nhảm nhí..."
    (trang 571)

    "Tổ quốc của phe Cộng sản là một tổ quốc gian ác, trong khi tổ quốc của các chính quyền quốc gia là một tổ quốc tầm phào. Mặc dầu vậy, hai cái tổ quốc đó đă làm chết gần bốn triệu người trong một cuộc chiến kéo dài gần ba mươi năm."
    (trang 573)

    "Ngôn ngữ của tổ quốc Việt nam đối với người dân là ''mày phải yêu tao và phục tùng tao tuyệt đối, c̣n tao không có bổn phận nào đối với mày cả''. Tổ quốc xấc xược và thô bạọ "
    (trang 579).

    "Sau đó, chính tổ quốc phải nhận lỗi về những đày đọa đă gây ra cho các con ḿnh, và tự sửa đổi. Tổ quốc phải rời bỏ bàn thờ thiêng liêng, tối cao và vô trách nhiệm để thân thiện đến với mọi người. Tổ quốc phải lột xác..."
    (trang 585).

    Để kết luận khi đọc xong những câu khoa đại ở trên, có lẽ phải mượn đến lời bà già Mỹ trong một quảng cáo bánh kẹp thịt (hamburger) mà ứng viên tổng thống Hoa kỳ, ông Mondale, đă dùng để đặt dấu hỏi về thực chất của những kế hoạch rất nổ của ứng viên đối thủ, là "where is the beef?" (thịt ḅ ở đâu ?) .

    Sau chót xin mời quí vị đọc câu sau ở trang 355:

    "Người dân chủ "cũng cần khẳng định: người dân không có bổn phận phải yêu nước; chính nhà nước và thành phần ưu tú của đất nước, nghĩa là thành phần trí thức, phải làm cho đất nước trở thành đáng yêu".

    Người dân không có bổn phận phải yêu nước? Tôi không khỏi nghĩ đến những cán bộ, bộ đội khi vào đến miền Nam tuyên bố: mọi sự có nhà nước no. Cái khác là CS coi giai cấp công nông ưu việt chịu trách nhiệm biến đất nước thành thiên đường Cộng sản, c̣n ông Kiểng (người dân chủ ?) th́ coi trí thức là thành phần ưu tú phải làm cho đất nước đáng yêu.

    4/ Ngoài đặc tính khoa trương hoa mỹ, lối văn ông Kiểng c̣n mang tính yếm thế mỉa mai khuyển nho (cynical, cynique). Xin hăy lướt qua mấy ḍng sau đây:

    "Chúng ta thiếu một cách tuyệt vọng tự hào dân tộc. Một người có niềm tự hào thực sự bao giờ cũng kính trọng những người giống ḿnh."
    (trang 63)

    "Chúng ta chưa biết cách quản lư tổ tiên "
    ( trang 152)

    "Tôi chỉ giận cái tâm lư kẻ sĩ của Khổng Giáo không chịu cút hẳn khỏi tâm hồn người Việt "
    (trang 322).

    Ông Kiểng viết câu này khi kể chuyện hai người trí thức bỏ không hợp tác với ông sau khi một nhà tướng số cho biết ông Kiểng "không có tướng của một minh chủ"

    "Hệ thống giá trị áp đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo. Nó hạ giá người phụ nữ xuống hàng một nô lệ và một vật dụng.... Rồi lại c̣n có cái chữ trinh cực kỳ đểu cáng"
    (trang 294)

    "Người chồng VN là một trong những người chồng thô bỉ nhất thế giới"
    (trang 295)

    5/ Sự tràn ngập tính khoa trương hoa mỹ, tính khuyển nho trong cách diễn tả, lối khẳng định tuỳ tiện cộng với ám ảnh muốn khoe hiểu biết và khả năng biện luận đă làm cho ông Kiểng đi đến những lẫn lộn về ngay những điều ông phân biệt và mâu thuẫn với ngay những khẳng định của ḿnh.

    5-1.Điển h́nh sự mâu thuẫn là trong chủ đề lớn của ông về ḷng yêu nước:

    "Muốn làm lại đất nước chúng ta không thể thiếu ḷng yêu nước và tinh thần trách nhiệm. Đó là chià khoá của vấn đề. Nhưng làm thế nào để phục hồi lại ḷng yêu nước?"
    (trang 584).

    Điều mâu thuẫn là: cứ như những khẳng định nhiều lần của ông Kiểng về ḷng yêu nước th́ người VN có ḷng yêu nước đâu mà phục hồỉ.

    Điển h́nh sự lung tung lẫn lộn là trong lư luận phê b́nh Khổng giáo:

    5-2.Ông Kiểng phân biệt Khổng giáo và Khổng tử, Khổng giáo ban đầu, Hán nho, Nho giáo xuống cấp, Khổng giáo sơ đẳng, Khổng giáo nhân bản hoá, Khổng giáo khi vào VN... nhưng lại lẫn lộn ngay sau đó, làm người đọc không biết ông khen Khổng giáo nào chê Khổng giáo nào. Xin quí vị đọc những ḍng dưới đây:

    "Khi Khổng Giáo bắt đầu được phổ biến tại VN th́ cái hào quang của mùa xuân tư tưởng Xuân thu Chiến quốc đă qua rồi. Khổng giáo thành Hán nho, tức là thứ Nho giáo đă xuống cấp, đă bị tước bỏ hết mọi tinh hoa của các Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi.. để chỉ c̣n thứ Nho giáo thui chột."
    (trang 304)

    "VN cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng Giáo dưới dạng sơ đẳng và cằn cỗi nhất. Chính v́ vậy mà văn hoá của VN thấp kém và bất dung hơn Trung quốc."
    ( trang 305)

    "Văn hoá Khổng giáo trở thành độc hại không phải nó sai ngay từ đầu mà v́ nó đă không biết đổi mớị"
    ( trang 331)

    "Khổng giáo là một hệ thống giá trị khe khắt, máy móc và vô nhân đạo được các vua chuá đem áp đặt vào cuộc sống. Người dân đành phải chấp nhận và v́ không thể chấp nhận nguyên vẹn nó, người dân đă phản ứng lại bằng cách thay đổi nội dung của nó để bớt đi phần nào sự khe khắt do đó mà Khổng giáo đă phần nào được nhân bản hoá"
    (trang 300)

    "Tuy vậy ông (Khổng tử) dậy học tṛ nên cư xử trung thực, giữ tín nghĩa với bằng hữu, phải phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ người già sống yên ổn, yêu trẻ thơ. Tất cả những đức tính đó đều đáng quí cả nhưng là những cũng chỉ là những đức tính thông thường đă được nh́n nhận từ lâu"
    (trang 280).

    "Hiếu, nhân, lễ, tín, trí... là những giá trị của mọi xă hội và mọi nền văn ḿnh chứ không phải của riêng Khổng giáo"
    (trang 294).

    Chỉ hai trang sau, ông Kiểng viết:

    "Chữ hiếu của Khổng tử không những bệnh hoạn mà c̣n bất lương" (trang 296). Chữ nhân của Khổng Tử dứt khoát không phải là chữ nhân chúng ta thường hiểụ..

    Người có th́ giờ rảnh rỗi và thích tranh luận th́ có thể đọc Tổ Quốc ăn năn, để mỗi trang là có thể viết một hay nhiều trang phản bác. Thực tế theo tôi có lẽ là không mấy ai phí th́ giờ làm chuyện vô ích nàỵ

    Người đơn giản th́ có thể bảo "ông Kiểng không biết ḿnh đang nói ǵ". Người thích ông Kiểng có thể đặt câu hỏi: Biết đâu tạo rối mù chẳng là một kỹ thuật ông Kiểng dùng để làm cho người đọc khâm phục v́ không hiểu hết những điều ông nóỉ

    6/ Thử t́m nguyên nhân của những khuyết điểm và sai lầm trong lư luận của cuốn Tổ quốc ăn năn

    6-1.Có lẽ một nguyên nhân quan trọng
    là ông NGK là một người làm chính trị rất thiếu th́ giờ (chính ông khẳng định). Thiếu th́ giờ nên không thể nghiên cứu kỹ lưỡng (ông nói thẳng ông không là nhà nghiên cứu). V́ làm chính trị nên ông thấy cần tạo chú ư bằng cách viết nổ. V́ cho rằng "người Việt nam không biết đọc, không biết viết và không biết nóí", nên có thể ông đă nghĩ rằng những kiến thức tổng quát phơn phớt mà th́ giờ ít ỏi của ông thu gom được có thể tạo sức nặng lư thuyết cho những ư kiến chủ quan của ông được trang điểm bằng lối văn huê dạng.

    6-2. Một nguyên nhân khác có thể là tiềm thức nể v́ người ngoại quốc của ông Kiểng. Khi ông phủ nhận những giá trị Việt nam - do ảnh hưởng Khổng giáo "độc hại" ( chữ dùng ở trang 331), và khi ông choáng váng trước đời sống vật chất Tây phương để thú nhận rằng "chua xót và thẹn thùng về sự thua kém của đất nước Việt nam và con người Việt nam" th́ đây chỉ là điều dễ hiểu. Sự nể v́ này biểu hiện ra trong sự kiện ông Kiểng luôn luôn viện dẫn ư kiến người ngoại quốc (từ đồng nghiệp trong sở đến nhân vật trong sách) cho lập luận của ḿnh. Xin tạm lấy một trường hợp:

    Ông Kiểng khẳng định "lực lượng Tây sơn không mạnh" dưạ trên báo cáo của một "chuyên viên" người Anh tên là Chapman (không rơ có biết rành tiếng Việt hay không) sau một chuyến đi "quan sát tỉ mỉ khắp nơi" rằng "chỉ cần một đạo quân 100 người mà có kỷ luật cũng đủ đánh tan toàn bộ quân Tây Sơn một cách nhanh chóng"
    (trang 164).

    Một trăm người, dù vơ khí tối tân và kỷ luật đến mấy cũng không thể nào thắng được cả một đám đông quần chúng VN "dù không yêu nước và chỉ biết tuân lệnh chủ" (như ông Kiểng nói), kém vơ khí nhưng được điều đng hiệu quả để xông lên tấn công (như trong trường hợp chiến thuật biển người của Mao trạch Đông ở Cao ly mà Vơ nguyên Giáp y theo ở Điện biên Phủ). Nguyễn Huệ, mà ông Kiểng khinh miệt và chê trách, có khả năng (tàn bạo) này, theo như chính tác giả viết trong sách. Ngoài ra, kết luận này khó có tính thuyết phục đối với những người đă từng nghe những khẳng định tương tự và sai bét của các chiến lược gia, các tướng lănh ngoại quốc về khả năng đánh thắng Việt nam trong lịch sử hiện đại.

    7/ Những lư luận của ông Kiểng có thể khiến cho người phân tích nghĩ đến lối lư luận tranh thắng tại chỗ theo trường phái những nhà quỉ biện (sophiste) của Hi lạp cổ khoảng giữa thế kỷ thứ 5 trước Thiên chúa tại Athens.

    Những người quỉ biện này dậy cách hùng biện và tranh thắng, dưạ trên hai đặc tính mà Plato gọi là:

    1. tạo tranh căi (eristic, éristique) và

    2. phản hợp lư (antilogique, antilogic).

    Plato đă coi những người quỉ biện là chỉ cốt lư luận tranh thắng bất chấp sự thực. Ngày nay chữ quỉ biện (sophisme, sophism hay sophistry) được hiểu là lư luận hay chủ trương lư luận chỉ đúng trên biểu kiến hoặc h́nh thức nhưng thật sự là sai; nhằm lừa dối hoặc để khoe ḿnh thông minh. Phương pháp này ngày nay được áp dụng nhiều trên kỹ thuật bán hàng. Đó là phóng ra những lờI cùng h́nh ảnh, màu sắc thật nổ, thật nhanh và không ngừng làm cho người nghe rơi từ choáng váng này đến ngạc nhiên khác mà không kịp suy nghĩ trái phải, về sự hợp lư hay kiểm chứng bằng những kinh nghiệm đă tích lũy của ḿnh.

    Dĩ nhiên lúc đàu người nghe có cảm giác không ổn nhưng sau một thời gian bị giằng kéo giữa việc phải bám theo ư của người nói rất nhanh và phản xạ đ̣i suy nghĩ của chính ḿnh, tâm trí người nghe nhanh chóng mệt mỏi, và để mặc cho người bán hàng dẫn đi. Kỹ thuật này cũng được khai triển trên truyền thanh truyền h́nh, bằng cách dùng những diễn tả ngắn gọn hay những h́nh ảnh của một góc toàn cảnh để tạo ấn tượng và phản ứng muốn có lên một quần chúng không có thói quen suy nghĩ và không có khả năng tập trung lâụ

    B. Những đặc điểm về tác giả

    1. Người đọc kỹ cuốn Tổ Quốc Ăn Năn có thể nhận thấy từ đầu đến cuối sự sôi nổi tuôn trào cảm tính của tác giả qua lối dùng chữ, đặt câu và diễn tả - vừa khoa trương hoa mỹ vừa khuyển nho yếm thế miả mai - như trên đă nói. Bên cạnh đó là sự quan tâm tạo một ấn tượng về ḿnh của ông Kiểng. Ấn tượng một người như thế nàỏ

    + một người bị ám ảnh bởi nhu cầu khẳng định sự khách quan của ḿnh bằng lập trường không chống cộng: "Độc giả đừng v́ nghĩ rằng tôi đang chống Cộng và kể tội người Cộng sản" (trang 4).

    +một người thù ghét bạo lực...

    +một người bị ám ảnh v́ sự công kích và phản đối của nhiều người đối với cá nhân ḿnh và nhóm ḿnh để cố t́m cách cắt nghĩa thái độ này bằng văn hóa, bằng lịch sử...

    +một người thích nổ, thích khác biệt, thích mới, như trang 72:

    "Sự kiện nhiều người không đồng ư với ḿnh chứng tỏ ư kiến ḿnh là mới. Tôi quan niệm đưa ra mười ư trong đó chín ư sai và một ư đúng vẫn c̣n hơn nói mười điều đúng cả mười nhưng chỉ là những ư cũ."

    +một người nói cho sướng miệng, cho hả dạ, bất chấp dữ kiện nêu ra sai đúng. Dẫn chứng:

    Trang 150 ông viết:

    "Vào cuối thập niên 80, một tổ chức chính trị lưu vong, MTQGTNGPVN của ông Hoàng Cơ Minh đă tung ra cả một đợt học tập qui mô về Quang Trung Hoàng đế. Thôi th́ đức của vua Quang Trung, phép trị nước của vua Quang Trung, mưu thuật Quang Trung vân vân... Nguyễn Huệ trở thành một đề tài học tập, một thứ cẩm nang hành động".

    Là người đoàn viên MT từ đầu thập niên 80 luôn luôn chú trọng đến vấn đề học tập, chưa bao giờ tôi được nghe biết đến một thảo luận nào về Quang Trung, đừng nói đến học tập qui mô. Nếu ông NGK có thể công khai cho mọi người biết đợt học tập này xẩy ra ở đâu, bao giờ th́ thật quí hoá. Sự dựng đứng về một điều dễ dàng kiểm chứng như việc này làm tôi đặt câu hỏi về sự chính xác của những sự kiện ông Kiểng nêu ra trong cuốn sách để làm căn bản lư luận. Thành thực mà nói, tôi đă phải cố gạt đi ư nghĩ về một bịa đặt bất lương, v́ tự nhủ dù sao ông Kiểng cũng là người "có học".

    Cũng để cho hả cái dạ của ḿnh, ông Kiểng viết ở trang 97:

    "Tôi sang Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh nổi như cồn. Tôi đă nói chuyện với rất nhiều người, và không ai, kể cả những người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu thực sự cả. Vậy th́ làm sao có thể nói là đă bị lừa gạt? Nói như vậy là không thành thực. Sở dĩ người ta ủng hộ ông là v́ ông đă có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực, và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó. Họ đóng góp cho ông Hoàng Cơ Minh v́ ông cho phép họ nuôi dưỡng giấc mơ đó. Họ đóng góp cho ông để ông diễn tuồng kháng chiến vơ trang cho họ xem." Và:

    "Ông Hoàng Cơ Minh đă thiệt mạng. Nhiều người khác đang ṃn mỏi trong các nhà tù. Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm lư tôn sùng bạo lực Việt nam".

    Rồi trở lại với nhóm của ông:

    "Nhóm Thông Luận đă bị phản đối dữ dội v́ chủ trương từ bỏ bạo lực, và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái lâu đời"

    "Một dân tộc không nhiều th́ ít cũng xứng đáng với số phận của ḿnh. Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ thế này cũng v́ cái tâm lư tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên thấy ḿnh là bạo lực."

    Nói mà không nghĩ trong một cơn xúc động th́ có thể hiểu được. Viết mà không nghĩ như trên cho một cuốn sách là điều khó tưởng tượng nổi ở một người làm chính trị và tự cho là khác với dân tộc Việt nam mà ông mô tả là "không biết đọc, không biết viết và không biết nói" (trang 105).

    Tôi là một đoàn viên Mặt Trận kỳ cựu và cũng là người có biết chút đỉnh về triết lư Phật giáo nên không mấy động tâm về lời xúc phạm của ông Kiểng đối với người chiến hữu tiên phong lănh đạo đă hy sinh của tổ chức chúng tôi là ông Hoàng Cơ Minh. Bởi lẽ lời ông Kiểng không thể làm thay đổi bản chất việc làm của chủ tịch MTQGTNGPVN Hoàng Cơ Minh. Và cũng v́ ḿnh làm ǵ th́ cũng có người chê, theo kinh Pháp cú: "Làm người mà không bị chê, thật là chuyện khó ở thế gian này".

    Ông Kiểng có thể ghét Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải phóng Việt nam và chủ tịch Mặt Trận là ông Hoàng cơ Minh, cũng như Việt cộng ghét Mặt Trận, và v́ thế miệt thị ông Minh và những người đă hy sinh cho cuộc đấu tranh giải phóng Việt nam. Nhưng nhân đó ông miệt thị luôn cả dân tộc là tôn sùng bạo lực chỉ v́ có đông đảo quần chúng ủng hộ ông Minh và Mặt Trận th́ người đọc không tránh khỏi quan tâm đến sức khỏe tâm trí của nhà chính trị Nguyễn Gia Kiểng.

    2. Sau chót, bỏ sang bên sự sai đúng trong cách lư luận và xử dụng sự kiện của ông NGK như trên đă nói, ta có thể thấy rằng cả cuốn sách ông Kiểng chỉ có kết tội Khổng giáo, kêu gọi từ bỏ bạo lực và hăy đi buôn cả nước.

    Nhưng trong suốt cuốn sách, ông Kiểng đă phạm đúng những điều ông công kích. Ông đă làm kỹ sư mà không đi buôn như là ông kêu gọi mọi người.

    Ông đă đặt câu hỏi:

    "Tại sao hàng ngàn hàng vạn trí thức lỗi lạc đă phục vụ cho họ (CS), và c̣n hết lời tâng bốc họ, làm biết bao nhiêu người khác tưởng họ là những thần tượng và chạy theo họ?"
    (trang 310).

    Câu hỏi này có thể đặt ngay cho ông Kiểng. Trong chương ‘’Thằng nào đây’’ ông NGK đă viết về những câu không thành câu, những thói sính tiếng tây của cựu tổng thống Thiệu, mà ông Kiểng biết từ thời c̣n làm ngân hàng VNCH. Câu hỏi cho ông Kiểng là: Nếu quả thực điều này quan trọng cần nói th́ tại sao ông Kiểng không nói ra cho công chúng biết ngay lúc đó, mà chờ đến ngày nay mới viết lại với giọng khinh thị, tuy ông Thiệu không có những biện pháp trấn áp bịt miệng như CS, và v́ thế thời VNCH không thiếu ǵ người phê b́nh chỉ trích ông Thiệu một cách công khai? Ông NGK khác ǵ những trí thức trong chế độ CS mà ông chê trách là đă im tiếng?

    "Chúng tôi đă gặp những đả kích gay gắt, hằn học từ đủ mọi phíạ Người ta mạt sát chúng tôi ..."
    (trang 147).

    "Chỉ v́ một ư kiến không hợp ư ḿnh, người ta có thể công kích nhau một cách thậm tệ dữ dằn"
    (trang 132).

    "Chúng ta đặt quá nhiều đam mê và xúc động vào một lịch sử không chính xác"
    (trang 183).

    Nhắc lại chính những điều ông kết án để xin ông Kiểng và các độc giả, hăy xem lại những câu, những đoạn ông Kiểng viết về lịch sử, về Khổng giáo, về những bất đồng ư kiến với ông hiện nay trong cuốn sách xem saọ

    Câu của Nguyễn Trăi"Chấp nhất kỷ chi kiến, giá hoạ ư tha nhân" mà ông Kiểng lấy làm tên cho một chương và nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cuốn sách có thể làm cử toạ chú ư khi nghe tŕnh bày trong một pḥng hội. Nhưng khi để vào cuốn sách với những chương khác đầy những mâu thuẫn lư luận, những khẳng định tùy tiện, và bằng lối sử dụng ngôn ngữ thậm từ như những dẫn chứng ở trên cho thấy, th́ người đọc khó tránh khỏi nghĩ rằng tác giả chính là người "Chỉ biết ư kiến ḿnh mà thôi, lúc nào cũng sẵn sàng buộc tội người khác" (lời dịch của ông Kiểng)

    Thực thế, tác giả tỏ ra rất bực bội về những phê b́nh và thái độ của những người không đồng ư với ḿnh, mà tác giả cho là tàn tệ, hay là đă vu cáo tác giả. Tôi không rơ người ta đă vu cáo cho tác giả những ǵ, nhưng tôi biết rằng chủ trương hoà giải hoà hợp của tác giả có nhiều người không đồng ư. Tôi cũng là một người không đồng ư khi đọc bài "Cơ sở lư luận" đầu tiên của ông Kiểng. Những sửa chữa lư thuyết của ông Kiểng tiếp theo sau đó tuy có giải thích hoà hợp hoà giải khác với hoà giải hoà hợp, phân biệt nhóm lănh đạo CSVN ra khỏi đám đảng viên và quần chúng vân vân...nhưng cũng không làm gia tăng bao nhiêu số người ủng hộ ông.

    Không phải chỉ v́ những quanh co biện giải này không làm cho người ta đồng ư với ông, mà c̣n v́ những hành động chính trị của ông tương tự như hành động "sửa dép vườn dưa", tạo nghi ngờ và khiến người ta đặt câu hỏi. Điều ngạc nhiên là một người có học như ông Kiểng mà lại không hiểu rằng khi những luận điểm lư thuyết không có tính thuyết phục và hành động không những không gây tin tưởng mà c̣n tạo nghi ngờ th́ chống đối, hay công kích chỉ là điều khó tránh. Sự tàn tệ trong ngôn từ chỉ là biểu hiện một mặc cảm yếu kém, một ám ảnh bị tấn công và ngược đăi (paranoiac), và một chỉ dấu bất lực từ trong tiềm thức.

    3. Có lẽ điều đáng chú ư nhất trong cuốn sách là ông Nguyễn Gia Kiểng đă nhận rằng:

    "Những nhược điểm của người Việt một phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, tôi có thể t́m thấy ở chính ḿnh."
    (trang 109).

    Nhưng, dù cho ông Kiểng có phần lớn những nhược điểm, hay đúng hơn là những "tồi tàn" dưới ng̣i bút khoa đại và khuyển nho của ông, th́ cũng chỉ là một trường hợp cá biệt và không thể từ đó suy ra rằng đó là những nhược điểm của người Việt nói chung, như ông Kiểng khẳng định.

    C. Kết luận

    Ông NGK trong cuốn Tổ Quốc ăn năn đă chê người Việt không có khả năng truyền thông. Không rơ ông Kiểng có hiểu rằng truyền thông giỏi không phải là nói những điều ḿnh thích nói và bất chấp người nghe mà là nói những điều lọt tai để ảnh hưởng người nghe. Với những luận điệu và cách diễn tả lấy được trong cuốn sách như lược trích ở trên, ông Kiểng phải có phương tiện trấn áp như CS để bắt mọi người phải đọc. Nếu không, e rằng chẳng mấy người bỏ công xem tiếp sau khi lật qua những trang đầu.

    Ở phần mở đàu, ông Kiểng nói "Tổ quốc ăn năn không phải là một tuyển tập những bài nghị luận mà là một cuốn sách."

    Tuy nhiên, những mâu thuẫn giữa các bài viết đă cho người đọc thấy thực sự cuốn sách chỉ là một tuyển tập các bài được viết ra một cách khoa trương hoa mỹ để đưa ra một số định kiến và cảm tính chứ không phải là một cuốn sách có giá trị lư luận lớp lang hay dựa trên những dữ kiện nghiên cứu vững chắc, như ông Kiểng muốn. Tuyển tập này được gọi là một cuốn sách v́ có thêm chương mở đầu để gán ư nghĩa cho từng phần và chương kết luận để cho cuốn sách có chủ đề.

    Về sự khẳng định ḿnh là nhà chính trị rất thiếu th́ giờ, th́ xin góp ư vớí ông Kiểng một chút:

    "Chính trị là vấn đề liên hệ đến cả nước, đầy những phức tạp, khó khăn, nhất là trong thời đại thế giới thu nhỏ ngày nay những vấn đề Việt nam không c̣n chỉ liên quan đến người Việt. Không có th́ giờ theo rơi, nghiên cứu th́ khó thể có những suy nghĩ đúng đắn để là một nhà chính trị đúng nghĩa. Có lẽ v́ thế mà ông Kiểng hễ nói ra là có quá nhiều người chỉ trích chăng? Xin mạn phép kể ông Kiểng nghe một chuyện nhỏ. Ngày xưa có Ninh Thích lúc hàn vi đi chăn trâu th́ đàn trâu luôn luôn béo tốt khỏe mạnh. Có người lấy làm lạ hỏi bí quyết. Ninh Thích chỉ nói ngắn ngủi "V́ tôi lúc nào cũng nghĩ đến trâu". Nếu mà Ninh Thích thiếu th́ giờ, chắc hẳn đă không giữ yên được chân chăn trâu cho chủ, mà cũng không thể trở thành một tể tướng tài ba"

    Ông Nguyễn Gia Kiểng viết quyển Tổ quốc ăn năn để tặng ba người, trong đó có con gái đầu ḷng của ông là Nguyễn Hoàng Quốc Phái, chết ở tuổi 6 tháng, khi cả cha mẹ bị giam giữ. Ông viết "Tôi cần một thắng lợi để làm quà tặng và xin lỗi Quốc Phái". V́ Quốc Phái là "Con gái xinh đẹp của một kỹ sư và một bác sĩ, một đứa bé mà cuộc đời hứa cho tất cả, nhưng đă chết như một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ và được chôn cất sơ sài trong một nghĩa trang tiều tụy", ông Kiểng viết. "Và thắng lợi đó phải thực quảng đại, xứng đáng với Quốc Phái và xứng đáng với nỗi đau không bao giờ nguôi trong tôi"
    (trang VII).

    Nghe ông Kiểng kêu gọi hoà giải hoà hợp, th́ người ta hiểu rằng trong ông không có, hay không c̣n hận thù. Nhưng ông lại cho người ta biết ông có nỗi đau không bao giờ nguôi, tuy rằng diễn tiến tự nhiên của cuộc đời là theo luật 3Q: "cái ǵ cũng qua, cũng quen và cũng quên".

    Rất nhiều người cũng trải qua những biến cố bi thảm tương tự hay hơn, và v́ thế họ không thể quên được. Ai cũng hiểu điều này. Nhưng những người này hoặc đă chọn thái độ dứt khoát đi vào đấu tranh chống tội ác, hoặc ủng hộ những cuộc đấu tranh nhắm vào những tội phạm hay những kẻ đồng loă. Mục đích đơn giản chỉ là để cho công b́nh ṣng phẳng và để không cho tội ác tiếp tục hay tái diễn.

    Nhưng với "nỗi đau không bao giờ nguôi ", ông Kiểng lại không hề làm thế mà ngược lại, ông c̣n công kích tất cả những người đấu tranh này. Có lẽ v́ vậy mà ông đă không thắng lợi từ khi đi vào hoạt động chính trị. Ông đă chỉ có thể tạo những phê b́nh chỉ trích, và nhận lănh những hậu quả của dư luận, khiến buồn bực bất măn trào dâng trong cuốn sách. Quả thật khó cho người đọc có thể nghĩ cuốn Tổ quốc ăn năn sẽ đem lại một thắng lợi quảng đại cho tác giả khi cảm tính không ḱm giữ được đă khiến tác giả coi tất cả mọi người, từ cổ chí kim là nghịch lại với ḿnh, để đả phá tất cả.

    Tôi sợ (và không dám tin) những người làm chính trị v́ động cơ cá nhân, dù động cơ đó là cảm tính, tiền bạc hay danh vọng. Tôi cũng e ngại những người ḷng nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo.
    Bác sĩ Trần Xuân Ninh

  4. The Following User Says Thank You to phanngoc For This Useful Post:

    NamBinh (10-01-2017)

  5. #3
    Administrator
    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    2,770
    Thanks Thanks Given 
    71
    Thanks Thanks Received 
    520
    Thanked in
    490 Posts
    Lời đầu, ông Nguyễn Gia Kiểng đă viết về "lư do ra đời của cuốn sách khiêm nhường này".

    Ở trang 326 tác giả cho biết rằng "tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu gộp chung lại và in thành một cuốn sách th́ cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang cầm trong tay thôi".

    Người đọc nhờ thế biết được rằng Khổng Tử thuyết giảng cả đời gom góp lại không nhiều bằng lời ông Nguyễn Gia Kiểng từ khi nhảy vào làm chính trị.


    - Viết lách ngông nghênh thế này, xem ra ông Kiểng chưa từng đọc Tứ Thư & Ngũ Kinh, mà chỉ nghe lỏm các cụ nhà ta thảo luận tầm phào trong những lúc trà dư tửu hậu thôi ...hehe ...!!!...



  6. The Following User Says Thank You to phanngoc For This Useful Post:

    NamBinh (10-01-2017)

  7. #4
    Administrator
    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    2,770
    Thanks Thanks Given 
    71
    Thanks Thanks Received 
    520
    Thanked in
    490 Posts



    Tổ quốc là ǵ? Tôi vẫn tự hỏi





    Tuấn Khanh
    - Tổ quốc là ǵ, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn ḍ trong lúc đau yếu, rằng hăy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà? Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).

    Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đă khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), c̣n gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc ḿnh.

    Tổ quốc là ǵ? Tôi vẫn tự hỏi

    Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương v́ thái độ bất đồng chính kiến, ông đă đau khổ nói rằng “Nước Nga măi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đă không thể quay lại để nh́n thấy tổ quốc và bạn bè của ḿnh”.

    Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan ră, Rostropovich vội vă t́m cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương ḿnh không c̣n chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn ḷng mời ông làm công dân danh dự của nước ḿnh.

    Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lư lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lư lẽ dài ḍng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng kư ức đó th́ sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.

    Năm 2008, trong một bài nói chuyện về ḷng ái quốc tại bang Missouri, ông Barack Obama đă nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một t́nh yêu cho nó “khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là t́nh yêu cho tổ quốc”.

    Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về t́nh yêu tổ quốc và giáo dục kiên tŕ ư tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. “Hăy bắt đầu bằng những kư ức đẹp đẽ nhất mà bạn đă sống trên đất nước này, ǵn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh căi của các chính trị gia”, ông Obama nói.

    Tổ quốc – đất mẹ

    Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy ḿnh bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đă giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao “Dù như sông cạn đá ṃn. C̣n non, c̣n nước, hăy c̣n thề xưa” (Thề non nước).

    Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không c̣n thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, th́ biết phải làm sao?”

    Tổ quốc là ǵ mà đời ḿnh phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đă quay lại dặn Nguyễn Trăi (1380 – 1442) rằng hăy quay về t́m cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…

    Với những người ghi danh trong lịch sử th́ đă vậy, c̣n với từng con người Việt b́nh thường, tổ quốc là ǵ trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đă lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.

    Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái v́ phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài ḍng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.

    “Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?” – “Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để t́m hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ ǵn, v́ đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra”, tôi nghe người cha trong gia đ́nh giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đă ngọng nghịu.

    Những câu chuyện về Nguyễn Trăi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái ḿnh – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.

    Quả là từng người Việt vẫn giữ ǵn cho ḿnh những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lư giải được tận cùng các ư nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.

    Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đă sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hăng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.

    Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước v́ đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. “Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm ǵ. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, v́ đó là phong tục xứ ḿnh, phải giữ”, anh bạn Việt kiều kể lại.

    Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ t́m về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mă xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đă lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đă quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.

    Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng ḿnh có một tổ quốc.

    Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với t́nh trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một kư ức kiêu hănh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của ḿnh, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

    Năm sau đến Hoàng Sa

    Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ “Năm sau đến Hoàng Sa”. Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.

    “Năm sau đến Hoàng Sa”, khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nh́n thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm ǵn giữ quê hương ḿnh. Đúng là chúng ta đă mất mát quá nhiều, nên đă đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.

    Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu “Năm sau đến Hoàng Sa”. Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. “Đến Hoàng Sa” chỉ là một khái niệm. “Đến Hoàng Sa” là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc ḿnh.

    Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ư nghĩa “tổ quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng của ḿnh, tôi nh́n thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đă sinh ra rất nhiều đứa con.

    Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đă là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ ḿnh… nhưng dẫu thế, những đứa con c̣n lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

    18 tháng 1 - 2016
    Blog Tuấn Khanh


  8. The Following User Says Thank You to phanngoc For This Useful Post:

    NamBinh (10-01-2017)

  9. #5
    Administrator
    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    2,770
    Thanks Thanks Given 
    71
    Thanks Thanks Received 
    520
    Thanked in
    490 Posts



    Tổ Quốc là ǵ?

    Tổ Quốc là hồn thiêng Sông Núi và Tổ Tiên từ ngày lập quốc, con dân ngàn đời sau đều phải mang ơn Tổ Quốc như con cháu ḍng họ mang ơn Tổ Tiên. Con cháu vong ân bội nghĩa với tổ tiên th́ không c̣n đủ tư cách làm người đứng trong Trời Đất. Con dân vong ân bội nghĩa với Tổ Quốc là đồ phản quốc.

    Chết v́ nước là "Đền Ơn Nước", Đền Nợ Nước", làm ǵ có chuyện "Tổ Quốc ăn năn".

    Ăn năn chăng là kẻ dám hỗn láo với Tổ Quốc, dám "bắt lỗi" Tổ Quốc phải ăn năn ḱa !!!

    Đỗ Phương Khanh

  10. The Following User Says Thank You to phanngoc For This Useful Post:

    NamBinh (10-01-2017)

  11. #6
    Administrator
    Join Date
    Jul 2015
    Posts
    2,770
    Thanks Thanks Given 
    71
    Thanks Thanks Received 
    520
    Thanked in
    490 Posts





    Cổ nhân đă nói:

    Không HỨA bậy ... ḿnh không phụ người ...
    Không TIN bậy ... người không phụ ḿnh ...

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •